.

Thứ sáu, 12/08/2022 -10:38 AM

Ra quyết định thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu thi hành án như thế nào đúng quy định pháp luật

 | 

Theo Bản án số 01/2019/HNGĐ-ST ngày 15/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Y quyết định “…Về tài sản chung: Giao cho anh Nguyễn Văn A được quản lý, sở hữu và sử dụng 01 nhà 03 tầng diện tích 160m2 có trị giá 366.177.000 đồng gắn liền trên đất thổ cư, quyền sử dụng 01 thửa đất thổ cư đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 89m2 tại huyện X, tỉnh Y có trị giá 352.000.000 đồng; quyền sở hữu số tiền 32.000.000 đồng tiền bán xe công nông; nhưng anh A phải trích trả chị B số tiền chênh lệch tài sản là 269.403.800 đồng. Chị B được nhận số tiền trích chia chênh lệch tài sản là 269.403.800 đồng…

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành, mức lãi suất được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.

Ngày 10/7/2019, sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, chị B làm đơn yêu cầu anh A có nghĩa vụ trích trả chị B số tiền chênh lệch tài sản là 269.403.800 đồng (không yêu cầu về lãi chậm thi hành án). Ngày 12/7/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y đã ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của chị B. Đến ngày 10/7/2020, anh Nguyễn Văn A đã thi hành xong số tiền 269.403.800 đồng.

Ngày 19/8/2020, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y tiếp tục nhận được đơn yêu cầu thi hành án của chị B đề ngày 18/8/2020 với nội dung “Yêu cầu anh A thanh toán số tiền lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thanh toán hết số tiền 269.403.800 đồng như Bản án đã tuyên”.

Ngày 20/8/2020, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu của chị B có nội dung: “Anh A phải thi hành lãi suất chậm thi hành án trên số tiền 269.403.800 đồng kể từ ngày chị B có đơn yêu cầu thi hành án (10/7/2019) theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành”.

Khi ra quyết định, Chi cục Thi hành án dân sự không tính cụ thể số tiền lãi mà anh A phải chịu và không yêu cầu chị B bổ sung nội dung đơn khởi kiện cho đúng với mức lãi suất chậm thi hành án của Bản án.

Do có sự khác nhau về mức lãi suất theo đơn yêu cầu là “Lãi suất cơ bản của Ngân hàng” và mức lãi suất theo Bản án số 01/2019/HNGĐ-ST ngày 15/4/2019 là “10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015” nên có các quan điểm khác nhau về việc ra Quyết định thi hành án dânsự theo đơn yêu cầu như sau:

* Quan điểm thứ nhất: Việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu như trên là đúng với mức lãi suất đã ghi trong Bản án.

* Quan điểm thứ hai: Việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu như trên là không đúngmàphải ra quyết định thi hành án có mức lãi suất theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng theo nội dung đơn yêu cầu của chị B.

* Quan điểm thứ ba: Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Y cần giải thích, yêu cầu chị B bổ sung đơn khởi kiện về phần lãi suất chậm thi hành án cho đúng với nội dung của Bản án và nêu rõ số tiền lãi mà anh A phải chịu trong quyết định thi hành án.  

Theo tôi quan điểm thứ ba là phù hợp nhất bởi lẽ theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2019 quy định “Quyết định thi hành án phải ghi rõ....phần nghĩa vụ phải thi hành án”.

Theo bạn quan điểm nào phù hợp.Rất mong sự đóng góp trao đổi của các đồng chí, đồng nghiệp./.

Triệu Thị Yến- Viện KSND huyện Việt Yên

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:22,675,947
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:35.168.110.128

    Thư viện ảnh