.

Thứ hai, 25/10/2021 -17:16 PM

Trao đổi về “Trưng cầu giám định” theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

 | 

Trưng cầu giám định là biện pháp điều tra trong quá trình thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc, vụ án hình sự; việc sử dụng kết quả giám định có ý nghĩa quan trọng trong việc chứng minh tội phạm cũng như việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xây dựng 10 Điều luật điều chỉnh các nội dung liên quan đến giám định (từ Điều 205 đến Điều 214); bổ sung đầy đủ những vấn đề cần phải trưng cầu giám định, nội dung cụ thể trong quyết định trưng cầu giám định; phân nhóm hợp lý các vấn đề cần trưng cầu và quy định thời hạn giám định cho từng nhóm; quy định rõ cơ chế nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình trưng cầu và sử dụng kết quả giám định, theo đó quy định trách nhiệm của cơ quan trưng cầu giám định trong thời hạn 24 giờ phải gửi quyết định trưng cầu giám định và kết luận giám định cho Viện kiểm sát, trong thời hạn 7 ngày phải thông báo kết luận giám định cho người tham gia tố tụng; quy định cụ thể thành phần và thủ tục giám định bổ sung và giám định lại... Do vậy, khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc trưng cầu giám định cần chú ý một số nội dung như sau:

Thứ nhất, về thời điểm trưng cầu giám định: có thể thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố (khoản 3 Điều 147 BLTTHS).

Thứ hai,về các trường hợp trưng cầu giám định:

- Bắt buộc phải trưng cầu giám định gồm (Điều 206 BLTTHS):

1) Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức; 2) Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; 3) Nguyên nhân chết người; 4) Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; 5) Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ; 6) Mức độ ô nhiễm môi trường.

- Xét thấy cần thiết trưng cầu giám định (khoản 1 Điều 205 BLTTHS): Thực tế một số trường hợp như giám định file video, âm thanh, hình ảnh, giám định pháp y về tình dục... hoặc một số trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định xác định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của tài sản, hàng hóa, hàng giả, hàng thật, hàng cấm; ruy nguyên về tài liệu, đồ vật, chữ ký, chữ viết, con dấu, dấu vết, dữ liệu điện tử; tính chính xác của các dụng cụ cân, đo, đong, đếm và các máy móc, thiết bị khác; về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; quyết định đầu tư dự án; về đấu thầu...

Thứ ba, thẩm quyền trưng cầu giám định:

- Trong giai đoạn khởi tố, điều tra: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT (Điều 36 BLTTHS); Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định trưng cầu giám định trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Quy chế số 111 trong giai đoạn khởi tố khi VKS trực tiếp giải quyết tin báo; trong giai đoạn điều tra khi VKS đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện mà nếu không giám định thì không đủ chứng cứ để giải quyết vụ án.

- Trong giai đoạn truy tố:Khi xét thấy cần thiết thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định trưng cầu giám định (Điều 41 BLTTHS).

- Trong giai đoạn xét xử:Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết (Điều 45 BLTTHS).

Thứ tư, kiểm sát quyết định trưng cầu giám định trong khởi tố, điều tra:

- Thời hạn chuyển quyết định trưng cầu giám định cho VKS: 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định (khoản 3 Điều 205 BLTTHS).

- Căn cứ trưng cầu giám định: Cần nghiên cứu, xem xét vụ việc thuộc trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo Điều 206 BLTTHS hay trường hợp cần thiết trưng cầu giám định theo Điều 205 BLTTHS và Điều 4 TTLT số 01/2017 ngày 13/12/2017.

- Nội dung trưng cầu giám định: Nội dung phải đảm bảo đầy đủ quy định tại khoản 2 Điều 205 BLTTHS; đối tượng giám định nêu trong quyết định trưng cầu phải đúng với đồ vật, tài liệu đã thu giữ cần giám định.

- Thời hạn giám định: phải đảm bảo theo khoản 1 Điều 208 BLTTHS (quy định cụ thể thời hạn đối với từng loại giám định). Đối với thời hạn không quy định cụ thể mà được thực hiện ghi trong quyết định trưng cầu giám định thì KSV cần đánh giá để xem xét tính khả thi để đảm bảo cơ quan được trưng cầu có thể thực hiện được; nếu thời hạn quá dài ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì trao đổi với CQĐT để điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ năm, kiểm sát việc thực hiện giám định:

- Cần lưu ý thành phần người giám định có thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định tại khoản 5 Điều 68 BLTTHS.

- Trường hợp KSV tham dự quá trình giám định thì báo trước cho người giám định biết (Điều 209 BLTTHS). Việc mở niêm phong vật chứng để giám định phải thực hiện đúng quy định tại Nghị định 127/2017/NĐ-CP.

- Khi hết thời hạn trưng cầu giám định nếu chưa có kết luận hoặc chưa có thông báo của cơ quan giám định thì chủ động phối hợp với CQĐT ra văn bản đôn đốc việc trả lời giám định.

Thứ sáu, kiểm sát kết quả giám định:

- Thời hạn CQĐT gửi kết luận giám định cho VKS là 24 giờ (Điều 213 BLTTHS).

- Về nội dung kết luận giám định cần đối chiếu giữa các yêu cầu của quyết định trưng cầu giám định với phần kết luận giám định, qua đó đánh giá kết luận giám định đã làm sáng tỏ mọi yêu cầu mà quyết định trưng cầu giám định đề ra chưa, kết luận giám định có đủ căn cứ để giải quyết vụ án hay không; đối chiếu tên, đặc điểm của đối tượng giám định trong quyết định trưng cầu với biên bản giám định có đồng nhất không... (khoản 2 Điều 36 Quy chế 111).

Thứ bảy, giám định bổ sung, giám định lại:

- Việc giám định bổ sung được thực hiện khi có một trong các căn cứ: Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ; khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó (Khoản 1 Điều 210 BLTTHS).

- Giám định lại được thực hiện khi  có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện (Khoản 1 Điều 211 BLTTHS).

Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp.

Thứ tám, trường hợp bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đề nghị giám định:

-Phạm vi đề nghị: Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội (Điều 207 BLTTHS).

Bị can, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác (trừ đương sự) có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại (Khoản 3 Điều 214 BLTTHS).

-Giải quyết việc đề nghị giám định:

Trường hợp người tham gia tố tụng có đơn đề nghị CQĐT trưng cầu giám định trong giai đoạn khởi tố, điều tra thì phải đánh giá việc đề nghị có căn cứ hay không, có thuộc trường hợp bắt buộc hoặc trường hợp cần thiết phải giám định hay không; trong thời hạn 07 ngày CQĐT phải ra 1 trong 2 văn bản: Quyết định trưng cầu giám định hoặc thông báo không chấp nhận đề nghị.

Trường hợp sau khi có kết luận giám định, người tham gia tố tụng đề nghị giám định bổ sung, giám định lại thì xem xét việc đề nghị đó có căn cứ theo quy định tại Điều 210 và 211 BLTTHS hay không. Nếu việc đề nghị không có căn cứ thì cơ quan tiến hành tố tụng không chấp nhận đề nghị và có văn bản thông báo nêu rõ lý do./.

Bùi Việt Hùng- VKSND huyện Lạng Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:19,976,567
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.214.224.207

    Thư viện ảnh