Luật Tư pháp người chưa thành niên được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026; tuy nhiên một số quy định mới có lợi cho người chưa thành niên được áp dụng kể từ ngày 02/12/2024 là ngày Luật được công bố (khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, mục 4 Chỉ thị số 01/2025/CT- TA ngày 17/02/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao) trong đó có các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt, xóa án tích cụ thể như sau:
1. Về hình phạt tù có thời hạn (Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017- sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự)
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật của Bộ luật Hình sự được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 15 năm tù, giảm 3 năm tù so với Bộ luật Hình sự (Bộ luật Hình sự quy định là 18 năm); nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần năm (Bộ luật Hình sự quy định ba phần tư) mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định, trừ trường hợp người đó phạm các tội: giết người, hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội sản xuất trái phép chất ma túy.
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật của Bộ luật Hình sự được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 09 năm tù, giảm 3 năm tù so với quy định của Bộ luật Hình sự (Bộ luật Hình sự quy định là 12 năm); nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá hai phần năm (Bộ luật Hình sự quy định không quá một phần hai) mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật Hình sự quy định, trừ trường hợp người đó phạm các tội: giết người, hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội sản xuất trái phép chất ma túy.
2. Về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt (khoản 3 Điều 120 Luật Tư pháp người chưa thành niên; khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự)
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt quy định theo hướng giảm nhẹ cho người chưa thành niên phạm tội chưa đạt, cụ thể: Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần bamức hình phạt quy định tại các điều 117, 118 và 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần haimức hình phạt quy định tại các điều 117, 118 và 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
3. Về thời gian thử thách của án treo(Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 65 Bộ luật Hình sự)
Bộ luật Hình sự không có quy định riêng về thời gian thử thách của án treo đối với người chưa thành niên phạm tội, Luật Tư pháp người chưa thành niên đã quy định cụ thể nội dung này theo hướng nhẹ hơn so với quy định chung của Bộ luật Hình sự, cụ thể: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người chưa thành niên phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 03 năm (giảm 2 năm so với Bộ luật Hình sự) và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về xóa án tích (Điều 127 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 107 Bộ luật Hình sự)
Khoản 2 Điều 127 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 03 tháng (giảm 03 tháng so với quy định Bộ luật Hình sự) trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; 06 tháng (giảm 06 tháng so với quy định Bộ luật Hình sự) trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;01 năm (giảm 01 năm so với quy định Bộ luật Hình sự) trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 02 năm (giảm 01 năm so với quy định Bộ luật Hình sự) trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm./.
Ngô Tuấn Hùng- Viện KSND huyện Hiệp Hòa