.

Thứ ba, 15/06/2021 -17:26 PM

Cảnh báo tình trạng tham ô tại các doanh nghiệp

 | 

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã mở rộng hơn về chủ thể của tội tham nhũng. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước (lĩnh vực tư) mà tham ô tài sản thì cũng bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 353 Bộ luật hình sự.

Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã xảy ra một số vụ án tham nhũng diễn ra ở khu vực tư. Mặc dù hành vi không mới nhưng đây là loại tội phạm mới; loại tội phạm này sẽ làm tăng chi phí và giảm đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp, làm hình thành những thói quen kinh doanh thiếu lành mạnh, làm méo mó bản chất các quan hệ kinh tế… Người phạm tội chủ yếu là nhân viên của Công ty, với thủ đoạn lập chứng từ khống (sử dụng hóa đơn khống, phiếu xuất hàng khống…) để chuyển hàng hóa, tiền ra khỏi Công ty nhằm chiếm đoạt. Do đó, việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi trên góp phần làm lành mạnh hóa môi trường hoạt động, kinh doanh của khu vực tư.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang đã phát hiện, khởi tố điều tra để xử lý một số đối tượng có chức vụ, quyền hạn nhất định các doanh nghiệp, Công ty có hành vi tham ô, hành vi phạm tội ở một số dạng điển hình như:

Vụ thứ nhất: Nguyễn Thị Th được Công ty TNHH W, có địa chỉ tại khu Công nghiệp Vân Trung ký Hợp đồng lao động không thời hạn với chức danh, chức vụ Kế toán trưởng. Th được giao nhiệm vụ tổng hợp hóa đơn, lập bảng thanh toán (thể hiện nhà cung cấp, tên hàng hóa; ngày tháng ghi trên hóa đơn đề nghị thanh toán, số tiền thanh toán) trình Giám đốc Tài chính để kiểm tra, phê duyệt; sau đó Th thực hiện việc chuyển tiền qua hệ thống Internet Banking để thanh toán cho các nhà cung cấp; các mã thanh toán đều sử dụng mã OTP do Giám đốc tài chính cung cấp.

Từ năm 2017, Th nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty W. Do đó, Thu đã liên hệ với một số đối tượng để mua hóa đơn, Th sẽ trả 1%-2%/ trên tổng giá trị hàng hóa trước thuế; khi cần Th cung cấp số lượng, nội dung hàng hóa, số tiền để các đối tượng này tự cân đối để viết, xuất hóa đơn khống; gửi hóa đơn cho Th qua đường bưu điện. Sau khi hoàn thiện thủ tục, Th thực hiện chuyển tiền thanh toán từ tài khoản của Công ty W cho các Công ty, hộ kinh doanh theo hóa đơn, rồi thông báo cho các đối tượng cung cấp hóa đơn, để các đối tượng này liên hệ với đơn vị cung cấp hóa đơn nhận lại số tiền Công ty W đã chuyển tiền thanh toán, sau khi trừ % hóa đơn, số tiền Công ty W đã thanh toán còn lại sẽ được chuyển lại vào tài khoản của Th. Đến nay, tổng số tiền Th chiếm đoạt được của Công ty W qua hình thức chuyển tiền thanh toán từ tài khoản Công ty W đến các đơn vị xuất hóa đơn khống khoảng 15,5 tỷ đồng.

Ảnh minh họa

Vụ thứ hai: Nguyễn Ch, Hồ Ph đều là nhân viên văn phòng có thời hạn tại Công ty N. Nhiệm vụ chủ yếu của Ch là quản lý khu vực xuất nhập hàng, phụ trách phần xuất nhập nguyên liệu, quản lý xuất phụ liệu PVC cho các Công ty gia công trong đó có nhiệm vụ làm đơn trên hệ thống phần mềm quản lý để chuyển cho kho cấp phụ kiện. Ph có nhiệm vụ xét đơn và phê duyệt trên hệ thống, in đơn rồi chuyển cho công nhân kho xuất hàng, chuyển cho Ch. Sau đó, Ch chuyển hàng hóa này cho các Công ty gia công thông qua các lái xe của các Công ty. Nhiệm vụ chính của Ph là Tổ trưởng quản lý kho phụ liệu, thực hiện việc nhận liệu, kiểm tra số lượng hàng hóa từ Công ty N chuyển đi và từ các Công ty gia công chuyển đến.

Lợi dụng nhiệm vụ được phân công, ngày 25/01/2021, Ch đã lên đơn trên hệ thống phần mềm quản lý công ty để làm phiếu xuất kho khống 10 thùng phụ liệu PVC. Ngày 28/01/2021, Ch tiếp tục lên đơn trên hệ thống phần mềm quản lý công ty để làm phiếu xuất kho khống 20 thùng phụ liệu PVC. Sau khi được Ph thông qua các đơn trên hệ thống đã lập phiếu xuất kho, Ch đã giao số hàng hóa này cho Ngô Q, Hồ T (đều là lái xe của các Công ty gia công cho Công ty N) để mang đi bán. Q mang đến một cửa hàng mua bán phế liệu bán được 15.000.000 đồng; T bán cho một cửa hàng phế liệu được 20.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán được, Q, T và Ch, Ph chia đều cho nhau chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Hà M và Chu G đều là công nhân Công ty S (chuyên sản xuất linh kiện điện thoại) thuộc Khu công nghiệp Việt Yên. Theo phân công M được phân công nhiệm vụ là Tổ trưởng của một ca làm việc tại bộ phận kho hàng (có trách nhiệm viết phiếu xuất hàng), M được hưởng phụ cấp trách nhiệm; G là lái xe, có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa từ Công ty S đến Công ty E thuộc Khu công nghiệp Quang Minh. Quá trình làm việc tại Công ty S, do không có tiền để chi tiêu cá nhân nên M và G đã bàn bạc, thống nhất sẽ lấy trộm hàng hóa (thùng linh kiện điện thoại) của Công ty S để bán lấy tiền chia nhau.

Theo sự bàn bạc từ trước nên ngày 28/01/2021, M đã viết 02 phiếu xuất kho, gồm: 01 phiếu xuất 150 thùng linh kiện đến Công ty E; 01 phiếu xuất 20 thùng hàng test (hàng dùng thử). Khi xe G đến, M để riêng 20 thùng hàng gần cửa thùng xe và báo cho G biết. Trên đường vận chuyển hàng từ Công ty S đến Công ty E, G đã dừng lại tại một cửa hàng thu mua phế liệu để bán 20 thùng hàng, được số tiền 14.000.000 đồng; phiếu xuất kho số hàng hóa này G đã hủy. Số tiền bán được, G và M chia cho nhau để chi tiêu cá nhân hết.

Thực trạng các vụ việc liên quan tới tham nhũng, chức vụ nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý trong thời gian qua cho thấy những mặt hạn chế, tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý nói chung, cũng như trong công tác phòng chống tham nhũng, tăng cường liêm chính trong kinh doanh nói riêng. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi phạm tội diễn ra là do hoạt động kiểm soát nội bộ chưa phát huy hiệu quả trong ngăn ngừa, phát hiện và xử lý gian lận, sai sót.

Việc xử lý kịp thời, xử lý nghiêm vụ án góp phần không nhỏ vào công tác phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Bắc Giang nói riêng và ở Việt Nam nói chung./.

Nguyễn Thị Huệ Anh- Phòng 3, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:18,848,482
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.236.170.171

    Thư viện ảnh