.

Thứ hai, 04/03/2024 -09:03 AM

Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm bản án hôn nhân gia đình của Tòa án có vi phạm về giải quyết án phí

 | 

Thông qua kiểm sát Bản án sơ thẩm số 10/2022/HNGĐ-ST ngày 24/01/2022 của TAND huyện Lục Nam giải quyết vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn chị Trần Thị N và bị đơn anh Lê Văn H, Viện KSND huyện Lục Nam xét thấy Tòa án có vi phạm trong việc giải quyết án phí như sau:

Tòa án đã xác định chị N và anh H có tài sản chung gồm:01 xe mô tô trị giá 14.400.000đ; 01 tivi trị giá 10.400.000đ; 01 ngôi nhà 02 tầng trị giá 588.744.000đ;  01 kiốt 16.118.000đ. Tổng giá trị tài sản là 629.662.000đ. Chị N, anh H có khoản nợ chung là nợ Ngân hàng chính sách 50.000.000đ.

 Tòa án đã giải quyết phân chia cho chị N, anh H mỗi người được hưởng ½ giá trị tài sản chung 629.662.000đ : 2 = 314.831.000đ và phải trả ½ số nợ chung cho Ngân hàng 50.000.000đ : 2 = 25.000.000đ.

Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Đương sựphải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba; các đương sự phải chịu một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của Tòa án.

Số tài sản được chia, sau khi trừ đi số tiền phải trả cho Ngân hàng thì chị N, anh H mỗi người còn được hưởng số tài sản trị giá 314.831.000đ – 25.000.000đ  = 289.831.000đ. Chị N, anh H mỗi người phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia 289.831.000đ x 5% = 14.491.000đ và mỗi người phải chịu án phí đối với số tài sản phải thực hiện nghĩa vụ là (50.000.000đ x 5%) : 2 = 1.250.000đ. Tổng cộng mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 14.491.000đ +  1.250.000đ = 15.741.000đ.

Nhưng Tòa án lại nhận định chị N, anh H mỗi người phải chịu án phí đối với tài sản được chia; án phí của khoản nợ phải trả 15.741.550đ + 1.250.000đ = 16.991.550đ là mỗi người phải chịu án phí nhiều hơn so với quy định của pháp luật là 1.250.000đ; không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chị N, anh H.

Tại phần nhận định của bản án, Tòa án có nhận định số tiền án phí chị N, anh H mỗi người phải chịu là 16.991.550đ (án phí tài sản được chia, án phí trả nợ)  + 75.000đ (án phí ly hôn) = 17.066.550đ; đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 6.550.000đ, anh H đã nộp 18.450.000đ thì chị N còn phải chịu số tiền án phí là 10.516.550đ; anh H còn được hoàn trả số tiền 1.383.450đ.

Nhưng tại phần quyết định của bản án, Tòa án không tuyên buộc chị N, anh H mỗi người phải chịu tổng số tiền án phí là bao nhiêu; đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp thì còn phải nộp hoặc được hoàn trả số tiền là bao nhiêu mà Tòa án chỉ tuyên là chị N phải chịu 10.516.550đ tiền án phí hôn nhân gia đình và dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh H 1.383.450đ tiền tạm ứng án phí là không đúng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã hết, nên Viện KSND huyện Lục Nam đã báo cáo đề nghị Viện KSND tỉnh Bắc Giang xem xét kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án sơ thẩm nêu trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm phần giải quyết án phí. Ngày 22/02/2022, Viện KSND tỉnh Bắc Giang đã quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án nêu trên./.

Ngô Thị Thắm- Viện KSND huyện Lục Nam

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:27,332,221
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.239.76.25

    Thư viện ảnh