.

Thứ bảy, 28/01/2023 -11:09 AM

Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm do Tòa phân chia cho đương sự sử dụng phần đất không có lối đi ra vào.

 | 

Anh Trần Duy M và chị Mưu Thị T kết hôn với nhau năm 2013. Đầu năm 2022, anh M và chị T đã được Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn. Sau khi ly hôn, anh M và chị T không thể tự thỏa thuận phân chia tài sản với nhau được. Nên anh M đã khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung cho anh và chị T.

Anh M và chị T đều  xác định anh chị có tài sản chung gồm: Diện tích đất 730m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 01 căn nhà 02 tầng; các loại cây ăn quả gồm 50 cây bưởi Diễn, 15 cây nhãn, 03 cây mít được xây, trồng trên đất 730m2.

Anh M đề nghị Tòa án giải quyết phân chia các tài sản chung như đã nêu trên cho anh và chị T. Để chị T quản lý, sử dụng toàn bộ quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và trích chia trị giá tài sản bằng tiền cho anh. Chị T đề nghị Tòa án chia cho chị được quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.

 Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện LN đãxử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M. Xác nhận tài sản chung của anh M và chị T  là quyền sử dụng đất diện tích đo thực 786m2 và tài sản trên đất, tổng trị giá 3.451.977.000đ.

Giao cho anh M quản lý, sử dụng, sở hữu tài sản 569,3m2 đất và một số cây ăn quả trên đất.

Giao cho chị T được sở hữu, sử dụng tài sản 189,7m2 đất; 01 nhà cấp 3; 01 bộ bàn ghế; 01 tủ lạnh; 01 tivi; 01 téc nước; 01 tủ lạnh; cổng nhà; tường vành lao; 02 trụ cổng; 01 giếng khoan; 01 sân gạch.

...

Xém xét nội dung vụ án và việc giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LN, Viện KSND thấy:

Anh M và chị T đều thừa nhận anh chị có tài sản chung là quyền sử dụng đất và đề nghị Tòa án giải quyết phân chia. Anh M đề nghị Tòa án chia cho chị T sử dụng đất và tài sản trên đất, trích trả cho anh bằng tiền. Chị T có nguyện vọng được chia tài sản bằng đất.

Tòa án đã xác định anh M và chị T có tài sản chung là quyền sử dụng đất. Nhưng không giải quyết chia cho chị T sử dụng toàn bộ đất và tài sản trên đất, chị T trích trả cho anh M bằng tiền theo như đề nghị của anh M. Tòa án đã nhận định phía sau thửa đất của anh M, chị T có lối đi thông ra đường thôn có chiều rộng 1,6m. Nên đã giải quyết phân chia cho chị T được sử dụng phần đất phía trước, chia cho anh M sử dụng phần đất phía sau.

Theo sơ đồ trích đo phần đất chia cho anh M (ban hành kèm theo bản án), thì phần đất này có lối đi ra đường thôn rộng 1,6m; đường đất này giáp với đất của hộ gia đình ông Dương Lý Svà giáp với đất của hộ gia đình bà Viên Thị V.

Nhưng căn cứ tài liệu là bản đồ địa chính xã T thì đất của hộ gia đình anh M, chị T không thể hiện có lối đi phía sau; chỉ thể hiện danh giới đất giữa hộ gia đình ông Dương Lý Svà bà Viên Thị V; phần lối đi rộng 1,6m nằm trong phần diện tích đất của hộ gia đình ông S.

Anh M (con ông S) trình bày: Đất hộ gia đình anh M, chị T không có lối đi phía sau. Phần lối đi rộng 1,6m là bờ đất ranh giới giữa hộ gia đình ông S và bà V. Bà C (mẹ đẻ chị T) đã tự ý mở rộng lối đi ra 1,6m. Nay bố anh là ông S đã cho anh phần diện tích đất này, anh không đồng ý việc bà C mở lối đi 1,6m.

Như vậy, có căn cứ xác định phần diện tích đất Tòa án giải quyết phân chia cho anh M không có lối đi ra vào kết nối với đường giao thông hiện hữu, không đủ điều kiện để tách thửa, không đủ điều kiện để anh M sử dụng. Việc Tòa án giải quyết giao cho anh M được sử dụng phần đất không có lối ra vào đường giao thông là không đúng quy định tại điểm b khoản 1, Điều 5 Quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở, diện tích tối thiểu được tách thửa đất và điều kiện tách thửa, hợp thửa đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ban hành kèm theo Quyết định số 40/2021/QĐ-UBND ngày 20/8/2021 của UBND tỉnh Bắc Giang, sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án sau này và không đảm bảo quyền lợi cho anh M.

Ngoài ra, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy: Anh M và chị T không yêu cầu giải quyết phân chia một số tài sản 01 bộ bàn ghế; 01 tủ lạnh; 01 tivi; 01 téc nước; cổng nhà ; tường vành lao ...Nhưng Tòa án vẫn xác định những tài sản này là tài sản chung của anh M và chị T và giải quyết phân chia cho anh M và chị T là giải quyết ngoài phạm vi yêu cầu của đương sự, không đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Để đảm bảo giải quyết vụ án có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đã ban hành quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm của Tòa án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, giải quyết phân chia lại tài sản cho các bên đương sự./.

Nguyễn Thị Tuyết- Phòng 9, VKSND tỉnh Bắc Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:24,275,748
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:18.232.179.5

    Thư viện ảnh