.

Thứ bảy, 28/05/2022 -23:32 PM

Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ không có căn cứ.

 | 

Ngày 02/3/2004 Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C đối với bị đơn là bà Lưu Thị T. Cả hai đương sự đều có địa chỉ tạithôn T, xã X, huyện L, tỉnh B.

Nguyên đơn bà C trình bày, bà có bán thức ăn chăm nuôi cho bà T. Bà Tcòn nợ bà số tiền 50.000.000đ nhưng không trả. Bà T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà T phải trả cho bà số tiền còn nợ trên. Bị đơn bà T có lời khai thừa nhận còn nợ bà C số tiền như bà C đã khai, đề nghị cho lui lại một thời gian để bán nhà đất xong sẽ thanh toán trả. Ngày 16/8/2004Tòa án có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo đơn đề nghị của bà C.

Ngày 05/7/2021 Tòa án có quyết định tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết. Do bà T không còn ở tại địa chỉ nêu trên. Nên Tòa án đã thu thập các tài liệu chứng cứ để xác định hiện nay bà T đang ở đâu. Đại diện UBND xã X, huyện L, tỉnh B cung cấp từ năm 2014 bà T đã bán nhà đất đi khỏi địa phương; không biết đi đâu. Đại diện công an thị trấn V, huyện L, tỉnh B cung cấp năm 2015 bà T có chuyển khẩu đến địa phương; năm 2017 bà T chuyển khẩu về phường ĐK, thành phố L, tỉnh L. Nhưng đại diện công an phường ĐK cung cấp bà T không nhập khẩu về địa phương, hiện không có ai là bà T sinh sống ở địa phương.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, bị đơn bà T không còn cư trú tại địa chỉ đã được xác định khi Tòa án thụ lý vụ án năm 2004. Nguyên đơn bà C không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn. Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn. Nên ngày 29/9/2021 Tòa án đã căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Điều 26, 35, 48, điểm h khoản 1 Điều 217, 218, 219, 271, 273 Bộ LTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn bà C có đơn kháng cáo không đồng ý việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.

Xem xét căn cứ, lý do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết như đã nêu trên thấy như sau:

Tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ LTTDS quy định: Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ LTTDSquy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định: “Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”.

Điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Căn cứ các quy định trên thấy rằng, nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn, Tòa án đã thụ lý vụ án. Saukhi Tòa án tạm đình chỉ; tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa ánkhông tống đạt được văn bản tố tụng, xác minh tại địa phương thì bị đơnđã đi khỏi nơi cư trú; mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trúmới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ LTTDS; đây được xác định là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định, việc Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn.Việc nguyên đơn kháng cáo, không đồng ý với việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ để được chấp nhận. Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ LTTDS chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.Xử hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Nguyễn Thị Tuyết- Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:22,122,241
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.235.176.80

    Thư viện ảnh