chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập ngành kiểm sát nhân dân (26/7/1960 - 26/7/2020) !

Thứ năm, 06/08/2020 -04:41 AM

Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự do Tòa không tuyên trách nhiệm người phải thi hành án phải chịu nếu chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản

 | 

Điều 357 Bộ luật dân sự đã quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn việc quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án:

1. Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau:

a) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

b) Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.

Các quy định, hướng dẫn nêu trên đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người được thi hành án về tài sản, hạn chế việc người phải thi hành án chây ỳ, trốn tránh trách nhiệm thi hành án về tài sản.

Khi ban hành bản án, quyết định Tòa án phải tuyên rõ trách nhiệm của người phải thi hành án theo hướng dẫn tại Điều 13 nêu trên.

Tuy nhiên, thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết án dân sự của Tòa án, Viện kiểm sát thấy còn có bản án, quyết định Tòa án “quyên” không thực hiện theo quy định nêu trên như trường hợp bản án sau:

Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/HNGĐ-ST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện LN giải quyết vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn anh Phạm Công B với bị đơn chị Bùi Thị M. Tòa án đã giải quyết phân chia tài sản cho hai bên đương sự, trong đó có xử buộc anh B phải có trách nhiệm thanh toán cho chị M số tiền chênh lệch tài sản là 700.000.000đ. Nhưng phần quyết định của bản án Tòa án không quyết định kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là không đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án là chị M.

Ngày 05/02/2020 Viện kiểm sát tỉnh B đã ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm nên trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B sửa án sơ thẩm, khắc phục vi phạm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm./.

Lương Thanh Hảo- Phòng 9, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:16,321,607
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.80.160.29

    Thư viện ảnh