.

Thứ tư, 13/11/2019 -00:05 AM

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kiến nghị yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang khắc phục, phòng ngừa vi phạm trong việc thực hiện công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã

 | 

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T với bị đơn anh Võ Việt V. Đều trú tại thôn Kim 1, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra trong vụ án còn có 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tham gia tố tụng. Trong đó có Ủy ban nhân dân xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn và Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn (UBND).Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thấy như sau:

Thửa đất của nhà ông T và nhà anh V liền kề với nhau ở thôn Kim 1, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn. Đất của ông T được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Lục Ngạn chỉnh lý trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) đã cấp cho bà T sang tên cho ông T diện tích 62m2 ngày 4/11/2013. Đất của anh V được UBND huyện Lục Ngạn đã cấp giấy CNQSDĐ ngày 01/4/2008 diện tích 192m2, sau đó cấp đổi giấy CNQSDĐ ngày 03/4/2009.

Ông T cho rằng diện tích đất gia đình ông hiện đang sử dụng bị thiếu so với diện tích đất đã được cấp giấy CNQSDĐ do bị anh V lấn chiếm, nên ông T đã khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân (TAND) huyện Lục Ngạn giải quyết.

Ngày 10/12/2015 TAND huyện Lục Ngạn đã thụ lý vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông T, bị đơn là anh V. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa UBND xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn; UBND huyện Lục Ngạn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

 Tính đến ngày 30/10/2018 TAND huyện Lục Ngạn mở phiên tòa xét xử vụ án, các đương sự trong vụ án đều không trình bày gì về việc anh V đã chuyển nhượng đất cho bà H, bà H đã được sang tên quyền sử dụng đất.

Sau khi TAND tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm ngày 16/4/2019 thì anh V, bà H mới trình bày và cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện, ngày 14/6/2018 anh V đã lập hợp đồng chuyển nhượng 192m2 đất đã được cấp giấy CNQSDĐ nêu trên cho bà H. Hợp đồng được chủ tịch UBND xã Phượng Sơn chứng thực ngày 14/6/2018. Ngày 29/6/2018 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn đã chỉnh lý trang 4 giấy CNQSDĐ đã cấp cho anh V sang tên bà H. Hiện nay toàn bộ diện tích nhà đất anh V đã được cấp giấy CNQSDĐ và phần diện tích đất ông T tranh chấp với anh V đang do bà H trực tiếp quản lý, sử dụng.

Xem xét việc anh V chuyể nhượng đất cho bà H thấy rằng:

Giữa ông T và anh V đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Vụ án đang được Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. UBND xã Phượng Sơn và UBND huyện Lục Ngạn đều đã biết việc tranh chấp này. Anh V không có đủ các điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/2018 giữa anh V với bà H là hợp đồng trái pháp luật. Khi anh V và bà H yêu cầu chứng thực hợp đồng này, UBND xã Phượng Sơn không từ chối mà lại thực hiện việc chứng thực hợp đồng vào ngày 14/6/2018 và việc ngày 29/6/2018 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lục Ngạn chỉnh lý trang 4 giấy CNQSDĐ đã cấp cho anh V sang tên bà H đều là trái pháp luật; vi phạm về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất; về thẩm quyền, trách nhiệm trong việc chứng thực hợp đồng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điểm d khoản 2 Điều 5; Điều 35Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch; làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án; đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân có liên quan.

Tại điểm b khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 đã quy định: 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:..b,Đất không có tranh chấp;

Điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định UBND cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm:..d,  Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;

Điều 35 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch và người thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch:

1. Người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 36 của Nghị định này.

2. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

Người thực hiện chứng thực có quyền từ chối chứng thực hợp đồng, giao dịch có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Để khắc phục và phòng ngừa vi phạm pháp luật trong công tác quản lý Nhà nước chứng thực; về đất đai tại địa phương; đảm bảo việc xác lập hợp đồng, chứng thực hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, hạn chế thấp nhất tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu  Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang:

 Chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm, khắc phục những vi phạm, thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước về chứng thực; về đất đai như đã nêu trên của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan.Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về chứng thực, về đất đai ở đại phương. Hướng dẫn, bồi dưỡng về nghiệp vụ chứng thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực tại UBND cấp xã trên địa bàn; tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chứng thực để tránh những vi phạm tương tự xảy ra trong thời gian tới./.

Lương Thanh Hảo- Phòng 9

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:12,908,103
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:18.207.249.15

    Thư viện ảnh