nhiệt liệt chào mừng đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh bắc giang lần thứ xix nhiệm kỳ 2020 - 2025 !

Thứ năm, 22/10/2020 -11:19 AM

Nhận diện một số vi phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai thông qua giải quyết một số vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

 | 

Trong những năm qua, án hành chính khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết có chiều hướng năm sau cao hơn năm trước. Trong đó nổi lên là loại án khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội (thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, giao thông) của tỉnh, huyện.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính nói chung, vụ án hành chính liên quan đến quản lý Nhà nước về đất đai nói riêng. Thông qua công tác kiểm sát thấy, UBND các cấp trong tỉnh có những vi phạm, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước về đất đai như: Vi phạm trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vi phạm trong việc chứng thực, xác nhận về tình trạng thửa đất; vi phạm thẩm quyền giải quyết về tranh chấp đất ...dẫn đến việc Tòa án xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện hủy các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể qua một vụ án như sau:

* Vi phạm trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Năm 1996, Ban lãnh đạo thôn 6, xã V bán đất ao, thùng vũng cho hộ ông T và ông G với số tiền 8.200.000 đồng. Ngày 20/12/1999, UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số Q032375 cho hộ ông T và số N818819 cho hộ ông G. Khoảng năm 2009 - 2010, ông T đã cải tạo thùng vũng, xây nhà cấp 4 trên một phần đất, xây dựng móng nhà kiên cố liền kề nhà cấp 4. Ông G cho rằng diện tích đất mà ông T được cấp GCNQSDĐ có một phần diện tích đất của mình nên có đơn khiếu nại. Quá trình giải quyết khiếu nại, UBND huyện V đã quyết định thu hồi 02 GCNQSDĐ trên với lý do việc cấp giấy chứng nhận không đúng (do thôn bán đất trái thẩm quyền). Từ năm 2009 đến năm 2015, UBND huyện V và UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định giải quyết khiếu nại của ông G và ông T. Trong khi việc tranh chấp đất đai chưa được giải quyết, trên đất vẫn có tài sản của hộ ông T nhưng ngày 08/12/2015 UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 1635/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSDĐ số CB796690 thửa đất số 350, tờ bản đồ số 20, diện tích 271,9m2; địa chỉ thửa đất thôn 6, xã V, huyện V (diện tích đất đang tranh chấp với ông T) cho hộ ông Glà không đúng quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật đất đai năm 2013.

- Năm 1993, UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ (đất ở) thửa số 190, tờ bản đồ số 25, diện tích 770m2, tại xã P, huyện L cho ông D. Nhưng bà  K lại kê khai và được UBND huyệnLcấp GCNQSDĐ ngày 22/12/2003, thửa đất số 45, diện tích 1.641,1m(gồm 300mđất ở, 1.341,1m2đất vườn), trong đó cấp chồng vào diện tích 770m2đất ở của ông D đã được cấp GCNQSDĐ năm 1993 là xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của ông D; vi phạm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

- Năm 1999, UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ thửa đất diện tích 2.352m2, cho ông V. Năm 2009 xảy ra tranh chấp đất đai giữa gia đình ông V với ông C, ông C đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới các cơ quan chức năng, Ngày 03/12/2012, UBND huyện L đã ban hành Quyết định thu hồi GCNQSDĐ thửa đất diện tích 2.352m2, cấp cho ông V. Ông V không đồng ý đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện L và UBND tỉnh nhưng không được xem xét chấp nhận, từ đó đến năm 2016 gia đình ông V vẫn quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất trên. Để được cấp GCNQSDĐ thì việc giải quyết tranh chấp đất đại giữa hộ ông V và hộ ông C phải được một trong các bên khởi kiện đểTòa án giải quyết. Tuy nhiên ngày 23/01/2015, UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ số BX801309, diện tích 370m2 cho hộ ông C (trong diện tích đất 2.352mmà ông V đang quản lý, sử dụng).Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông C chưa có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; cấp GCNQSDĐ khi đang có tranh chấp.

- Năm 1979 ông Đ và bà V kết hôn (tuy nhiên đến năm 1994 đến năm 2001 ông Đ chung sống như vợ chồng với bà M). Quá trình chung sống giữa ông Đ và bà M có mua thửa đất số 625, tờ bản đồ số 48, diện tích 364,1m2 tại thôn C, xã V, huyện T của bà T và ông L, được UBND xã V xác nhận (đất này đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ năm 1994). Năm 2018 UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số CM474454 thửa đất trên cho ông Đ và bà V, hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Đ và bà V do UBND xã V lập, trong đó có đơn đề nghị xác nhận bà V và bà M là một người do bà V ký đơn (UBND xã V thừa nhận việc xác nhận đơn của bà V là sai, không đảm bảo quy định của pháp luật). Như vậy ngoài việc cấp GCNQSDĐ số CM474454 cho ông Đ và bà V là cấp không đúng đối tượng, xâm phạm đến quyền lợi của bà M, UBND huyện T còn cấp không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai 2013 và khoản 1 Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (Trường hợp này thuộc thẩm quyền của Sở TN và MT tỉnh Bắc Giang).

- Nguồn gốc diện tích đất 1163 m2của cụ T và cụ N, tại thôn N, xã K, huyện L là của cha ông để lại. Năm 2000 cụ N chết không để lại di chúc thì cụ T vẫn quản lý sử dụng. Năm 2003, UBND huyện L cấp giấy CNQSDĐ cho hộ ông Tr (ông Tr là một trong các con của cụ T và cụ N). Tuy nhiên hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ cho ông Tr chỉ có tờ trình cấp giấy CNQSDĐ của UBND xã K, không có nội dung khác cho nên nên trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSDĐ là không đúng quy định tại điểm 2, mục 1, chương 3 của Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính. Các thành viên trong hộ gia đình ông Tr (trong đó có cụ T) và hàng thừa kế thứ nhất của cụ N không ủy quyền cho ông Tr đại diện đăng ký QSDĐ. Cho nên  UBND huyện L cấp Giấy CNQSDĐ cho hộ ông Tr là không đúng quy định tại điểm a, i, mục 1, chương 2 của Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục địa chính.

* Vi phạm trong việc kê khai, chứng thực, xác nhận về tình trạng thửa đất

- Thửa đất số 174, tờ bản đồ số 10, diện tích 1069,6m2, tại thôn H, xã N, huyện V của vợ chồng ông K, bà V, có nguồn gốc do cha ông để lại, được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ số BY976629, cấp đổi năm 2015. Năm 2013 vợ chồng ông K, bà V cho vợ chồng con trai anh C diện tích 350m(có biên bản họp gia đình), ngay sau đó anh C đã xây nhà 02 tầng, xây tường bao xung quanh, sử dụng ổn định, không ai có anh chị em trong gia đình có ý kiến gì. Năm 2015 vợ chồng ông K, bà V tặng cho toàn bộ thửa đất 174 cho con trai khác là anh H (được UBND xã N xác định thửa đất sử dụng ổn định không có tranh chấp, thế chấp), hợp đồng tặng cho được công chứng tại Văn phòng công chứng HT, ngày 27/4/2015 UBND huyện V đã cấp GCNQSDĐ số BY973404 cho anh H. Từ việc ông K, bà Vkê khai không trung thực trong đơn đề nghị xác nhận về tình trạng thửa đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn kiền với đất; Văn phòng công chứng HT đã công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông K và bà V với anh H không phù hợp với bản chất vụ việc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của anh C (căn cứ xác nhận không đúng thực tế của UBND xã N). Việc điều chỉnh tại trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai nội dung, do vậy việc cấp đổi GCNQSDĐ cho anh H là không đúng pháp luật.

- Thửa đất số 09a, tờ bản đồ số 18, diện tích 812m2 tại thôn N, xã T, huyện S của anh N được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BX305280 năm 2014. Nguồn gốc thửa đất trên do ông G và bà D là bố mẹ anh N khai hoang. Tuy nhiên hồ sơ cấp đất cho anh N thể hiện: Hợp đồng tặng cho giữa ông Gvà bà D với anh N không đảm bảo quy định pháp luật (vì ông G và bà D chưa bao giờ ký hợp đồng tặng cho anh N; hợp đồng không có chữ ký của các người con khác của ông G và bà D). Ngày 29/7/2016 bà D có đơn đề nghị UBND xã T giải quyết tranh chấp đất đai với con trai là anh N. Khi tranh chấp đất đai giữa anh N và bà D chưa được giải quyết, ngày 09/8/2016 anh N có hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông bà X (được UBND xã T chứng thực cùng ngày) và ngày 26/12/2017 anh N có hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông bà Đ (được UBND xã T chứng thực và xác định đất không có tranh chấp). Việc UBND xã T chứng thực vào các hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa anh N nêu trên, dẫn đến việc cấp Giấy CNQSDĐ không đúng quy định, vi phạm điểm b,  khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

- Thửa đất số 443 diện tích 1200m2 và thửa đất số 366 diện tích 930 m2 tại thôn N, xã S, huyện T là của cụ Th khai hoang từ năm 1945; năm 1992 cụ Th cho con trai là ông V thửa đất số 366 diện tích 930 m2, còn lại thửa đất số 443 diện tích 1200 m2 thì cụ Th và ông L vẫn cùng sinh sống quản lý và sử dụng. Tuy nhiên ông L đã tự ý kê khai thủ tục để được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số 01245, không ghi ngày, tháng năm đối với cả hai thửa đất trên là không đúng thực tế, không đúng chủ sử dụng đất (Hộ ông L và hộ cụ Th quản lý, sử dụng 1.200 m2 tại thửa 443, tờ bản đồ số 16; Hộ ông V quản lý, sử dụng 930 m2 tại thửa 366, tờ bản đồ số 16). Việc ông L kê khai và cấp và UBND huyện T cấp GCNQSDĐ như trên là không đúng quy định, vi phạm khoản 3 Điều 6 Luật Đất đai năm 1993.

* Vi phạm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

- Năm 1996, Ban lãnh đạo thôn 6, xã V bán đất ao, thùng vũng cho hộ ông T và ông G với số tiền 8.200.000 đồng. Ngày 20/12/1999, UBND huyện V cấp GCNQSDĐ số Q032375 cho hộ ông T và số N818819 cho hộ ông G. Khoảng năm 2009 - 2010, ông T đã cải tạo thùng vũng, xây nhà cấp 4 trên một phần đất, xây dựng móng nhà kiên cố liền kề nhà cấp 4. Ông G cho rằng diện tích đất mà ông T được cấp GCNQSDĐ có một phần diện tích đất của mình nên có đơn khiếu nại. Quá trình giải quyết khiếu nại, UBND huyện V đã quyết định thu hồi 02 GCNQSDĐ trên với lý do việc cấp giấy chứng nhận không đúng (do thôn bán đất trái thẩm quyền). Ngày 25/8/2014, UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 4927/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp và công nhận quyền sử dụng đấtQSDĐ giữa gia đình ông T và ông G.

- Hộ ông K sử dụng diện tích đất 3.198m2 ổn định từ năm 1994, không có tranh chấp, được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số Q313215 ngày 10/4/2001; đến năm 2014 thôn T cho rằng một phần diện tích đất của hộ ông K đã được cấp GCNQSDĐ là đất của thôn nên có đơn khiếu nại đến UBND huyện L yêu cầu ông K trả lại đất. Ngày 02/10/2017, UBND huyện LN đã ban hành Quyết định số 1898/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông K nêu trên với lý do “đất được cấp không đúng... có một phần diện tích đất công ích...”.

Tại thời điểm xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất hộ ông T, hộ ông G, hộ ông K đều đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ, có tài sản trên đất, đã được hòa giải nhưng không thành; do đó trong cả hai trường hợp này, đều phải xác định là tranh chấp dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Việc UBND huyện L ban hành quyết định thu hồi GCNQSDĐ của ông K vì cho rằng đây là đất công ích do UBND xã Đ quản lý (trên thực tế diện tích đất cấp cho ông K không phải đất công ích và UBND xã Đ không quản lý) và việc UBND huyện V giải quyết khiếu nại, quyết định công nhận quyền sử dụng đất của ông G và ông T là không đúng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì giải quyết như sau: "Tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết".

* Vi phạm trong việc giải quyết tranh chấp đất đai

- Năm 2003, Ban lãnh đạo thôn N, xã C, huyện H bán cho bà S một mảnh đất, năm 2016 bà S đề nghị cấp GCNQSDĐ thì xảy ra tranh chấp với ông V; ngày 01/6/2018 Chủ tịch UBND huyện H đã ban hành Quyết định số 1980/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp giữa hộ ông V và bà S. Quá trình Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 1980 có một số thiếu sót, vi phạm như sau: Hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ ông V và bà S không có trích lục bản đồ, vi phạm quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 89 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Khi giải quyết tranh chấp không tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp là không đúng quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 89 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Về nội dung giải quyết, phần đất tranh chấp giữa hộ ông V và bà S nằm trong thửa đất có nguồn gốc ông V khai hoang nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ, năm 2003 bà S mua phần đất tranh chấp này. Quyết định số 1980 khó thi hành khi xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ ông V nhưng không xác định diện tích đất tranh chấp là bao nhiêu, vị trí, tứ cận của phần đất tranh chấp, vì hộ bà S chỉ tranh chấp một phần trong toàn bộ thửa đất của hộ ông V đang quản lý, sử dụng.

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, tổng hợp những sơ hở, thiếu sót trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai của UBND các cấp nêu trên để đồng nghiệp tham khảo, rút kinh nghiệm. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết án tranh chấp về đất đai nói chung và các vụ án khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng./.

Trần Văn Trí- Phòng 10, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

Đăng nhập

Liên kết web

Thống kê

  • Số người truy cập:17,066,959
  • Số bài viết:2,965
  • IP của bạn:3.238.8.102

    Thư viện ảnh